Trang chủ/ Bài viết

CƠ SỞ KHOA HỌC

Ngày 26 Tháng 12 Năm 2018

Năm 1936, Allport và Odbert đã liệt kê được gần 18.000 danh mục từ để mô tả nhân cách trong từ điển ngôn ngữ tiếng Anh.

Sự hình thành của Big Five Model được bắt đầu từ ba lĩnh vực. Lĩnh vực đầu tiên là từ việc tìm
kiếm trong ngôn ngữ tự nhiên những từ vựng dùng để mô tả nhân cách, các nhà tâm lý học nhân
cách đã tiến hành phân tích yếu tố để tìm ra điểm chung nhất giữa một loạt các đặc điểm, hay là
những loại đặc điểm có xu hướng cùng nhau tập trung dưới một yếu tố. Lĩnh vực thứ hai là các
nhà nghiên cứu đã tìm thấy mối liên hệ giữa các test về đặc điểm nhân cách với các test khác.
Lĩnh vực cuối cùng là phân tích những đóng góp của di truyền đối với nhân cách.


Qua nghiên cứu từ vựng (lexical study), người ta giả định rằng "sự khác biệt giữa các cá nhân có
ý nghĩa quan trọng trong hoạt động con người được ký hiệu hóa thành ngôn ngữ (ngôn ngữ tự
nhiên) sử dụng hằng ngày (giả thuyết từ vựng cơ bản - fundamental lexical hypothesis,
Goldberg, L.R., 1981). Do đó nếu tập trung, phân loại, chỉnh lý các từ ngữ biểu hiện sự khác biệt
cá nhân (đặc tính ngữ) có trong từ điển hay những mô tả người có trong tiếp xúc và ghi chép thì
có thể nhìn thấy cấu trúc của nhân cách.


Người có công đầu tiên trong việc tìm kiếm và phân loại từ vựng trong ngôn ngữ tự nhiên là
Allport và Odbert. Năm 1936, hai ông đã liệt kê được gần 18.000 danh mục từ để mô tả nhân
cách trong từ điển ngôn ngữ tiếng Anh và chia các từ thành 4 cột. Cột thứ nhất chứa những từ mô
tả đặc điểm cá nhân. Cột thứ hai bao gồm những phạm trù mô tả tâm trạng, cảm xúc, hoạt động.
Cột thứ ba là những thuật ngữ đánh giá xã hội của những sản phẩm cá nhân hoặc những ảnh
hưởng đến người khác và cột cuối cùng là những từ liên quan đến thể lực, tài năng và khả năng,
năng lực.


Năm 1943, Cattell sử dụng danh mục từ của Allport và Odbert để làm điểm xuất phát cho mẫu
hình cấu trúc nhân cách đa yếu tố của mình. Ông rút gọn danh mục xuống còn 171 cụm (19460
từ và sau đó còn 35 biến số về đăc điểm với 4500 đặc điểm. Và đây là danh mục cuối cùng để
ông phân tích nhân tố. Kết quả là xuất hiện 12 yếu tố cơ bản của nhân cách. Năm 1974, ông kết
luận rằng, các yếu tố cơ bản này là những chiều đo quan trọng nhất của nhân cách.


Việc phân tích thuật ngữ đặc điểm được tiến hành tiếp tục bằng bẳng hỏi cá nhân về đặc điểm
nhân cách. Các nghiệm thể tự đánh giá mình và những người khác qua những đặc điểm này. Từ
năm 1961, Tupes và Christal phát hiện 5 yếu tố kết quả từ bộ biến số của Cattell. Trong một
phân tích khác, khi phân tích yếu tố kết quả thu được với mục đích xem những đặc điểm nào đi
cùng nhau trong các bản tự đánh giá cá nhân, Norman (1963) đã tìm thấy 5 yếu tố nổi bật của
nhân cách. Sau này, nhiều nhà nghiên cứu khác nhau, tiến hành khảo sát lại nguồn dữ liệu khác
nhau cũng phát hiện ra 5 yếu tố lớn của nhân cách (Jonh, 1990). Người ta cũng tìm thấy độ tin
cậy và độ giá trị của 5 yếu tố và các yếu tố này khá ổn định khi ở lứa tuổi trưởng thành (McCrae
và Costa, 1994).

Golberg (1981) sau khi tổng hợp các nghiên cứu của những người khác và của
chính ông đã đề nghị lấy tên gọi của 5 yếu tố đó là
Big Five, bao gồm: Tự chủ, Hướng ngoại,
Hòa đồng, Sẵn sàng trải nghiệm và Bất ổn cảm xúc.